Author Archive

Administrator

...


Sản xuất và thương mại thủy sản thế giới

Written by Administrator on 13/01/2013. Posted in Tin tức & sự kiện

Năm 2010 ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản thế giới đã thu hoạch khoảng 148 triệu tấn, trị giá 217,5 tỷ USD, trong đó dùng làm thực phẩm 128 triệu tấn. Năm 2011, sản lượng tăng lên 154 triệu tấn, trong đó 131 triệu tấn dùng làm thực phẩm.

 

Tổng sản lượng thủy sản khai thác trên thế giới giữ ổn định ở quanh mức 90 triệu tấn/năm, mặc dù đã có những biến động quan trọng về xu hướng khai thác của từng nước, về ngư trường và loài đánh bắt. Sản lượng của tất cả các loài, trừ cá cơm, nằm trong khoảng 72,1-73,3 triệu tấn/ năm trong giai đoạn 2004-2010. Sản lượng cá cơm ở vùng đông nam Thái Bình Dương bị sụt giảm mạnh, từ 10,7 triệu tấn năm 2004 xuống còn 4,2 triệu tấn năm 2010. Hiện nay khu vực khai thác có sản lượng lớn nhất là vùng tây nam Thái Bình Dương. Sản lượng của các vùng đông bắc Thái Bình Dương và tây nam Đại Tây Dương đã đạt mức đỉnh từ nhiều năm trước và nay đang giảm dần. Tuy nhiên đến năm 2010, tất các vùng khai thác trên đều có khuynh hướng giảm. Hai vùng biển Địa Trung Hải-Biển Đen và tây nam Đại Tây Dương có sản lượng giảm tương ứng là 15 và 30% so với năm 2007.Theo đánh giá của FAO, các nguồn lợi đã bị khai thác hết tiềm năng đến sát mức sản lượng bền vững tối đa. Vì vậy, không còn cơ hội để tăng thêm sản lượng. Một số loài quan trọng như cá cơm, cá sòng (jack mackerel) Chilê và các họ cá tuyết đều có sản lượng giảm trong năm 2010, riêng cá tuyết đã giảm 2 triệu tấn. Các loài có giá trị thương mại quan trọng như cá ngừ và tôm đều có sản lượng khai thác ổn định trong năm đó. Riêng nhuyễn thể chân đầu bắt đầu tăng trở lại sau khi bị giảm khá mạnh tới 0,8 triệu tấn vào năm 2009.  
Đối với cá ngừ và các loài gần cá ngừ khác, tổng sản lượng khai thác năm 2010 đạt 6,6 triệu tấn. Trong đó, các loài có giá trị thương mại quan trọng là cá ngừ vây dài, cá ngừ mắt to, cá ngừ vây xanh, cá ngừ vằn và cá ngừ vây vàng chiếm 4,3 triệu tấn, tương đương sản lượng năm 2002. Tuy nhiên, trữ lượng nguồn lợi của hầu hết các loài trên đều đã suy giảm, thậm chí 1/3 số loài đã bị lạm thác. Riêng cá ngừ vằn còn khả năng tăng sản lượng nhưng vẫn phải giám sát chặt chẽ.Trong tổng sản lượng thủy sản khai thác, sản lượng thủy sản nội địa đã tăng mạnh với tốc độ bình quân 30%/năm từ giữa những năm 2000, năm 2010 đạt khoảng 11,2 triệu tấn. Các nước châu Á chiếm 70% sản lượng thủy sản nội địa và hầu hết tăng trưởng trong lĩnh vực này xuất phát từ châu Á, trong đó chủ yếu là từ Trung Quốc, Ấn Độ và Myanma. Sản lượng thủy sản nuôi trồng Sản lượng thủy sản nuôi trồng (TSNT) của thế giới đạt mức cao kỷ lục 79 triệu tấn, trị giá 125 tỷ USD và năm 2010 (nếu không kể thực vật thủy sinh và các sản phẩm phi thực phẩm thì sản lượng đạt 60 triệu tấn, trị giá 119 tỷ USD). Hiện nay, NTTS có mặt ở 190 nước với 600 loài khác nhau được nuôi trong các hệ thống đầu tư cao và công nghệ tiên tiến, trong đó có cả việc đầu tư cơ sở sản xuất giống để tái tạo nguồn lợi tự nhiên, nhất là trong các vùng nước nội địa. Châu Á hiện chiếm đến 89% tổng sản lượng TSNT thế giới, trong đó chủ yếu là Trung Quốc, chiếm tới 60% tổng sản lượng TSNT toàn cầu năm 2010. Năm 2010, sản lượng thủy sản nuôi làm thực phẩm đạt khoảng 59,9 triệu tấn, tăng 7,5% so với 55,7 triệu tấn năm 2009 và 32,4 triệu tấn năm 2000. Thủy sản nuôi làm thực phẩm gồm các loài cá, giáp xác, nhuyễn thể, lưỡng cư (ếch), bò sát thủy sinh (không tính cá sấu) và các loài khác như hải sâm, cầu gai, đồn đột…. Mười nước có sản lượng TSNT lớn nhất thế giới năm 2010, theo thứ tự giảm dần gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Inđônêxia, Bănglađét, Thái Lan, Na Uy, Ai cập, Myanma và Philippin. Các nước này chiếm 87,6% khối lượng và 81,9% giá trị TSNT làm thực phẩm. Trong sản lượng thủy sản nuôi của châu Á, cá chiếm 64,8%, nhuyễn thể 24,2%, giáp xác 9,7% và các loài khác 1,5%.  
Ngành NTTS của Nam Mỹ đang phát triển nhanh, nhất là Braxin và Pêru, chủ yếu là cá (57,9%), giáp xác (21,7%) và nhuyễn thể (20,4%). Châu Âu phát triển nuôi lồng cá hồi Đại Tây Dương và một số loài khác. Nhiều nhà nuôi thủy sản lớn của châu Âu đã thu hẹp hoặc ngưng sản xuất, nhất là nhuyễn thể hai mảnh vỏ. Năm 2010, cá chiếm ¾ và nhuyễn thể chiếm ¼ sản lượng thủy sản nuôi của châu Âu.Thành phần chính trong sản lượng thủy sản nuôi toàn cầu năm 2010 gồm cá nước ngọt 33,7 triệu tấn (chiếm 56,4%); nhuyễn thể 14,2 triệu tấn (23,6%); giáp xác 5,7 triệu tấn (9,6%); cá nước lợ 3,6 triệu tấn (6%); cá biển 1,8 triệu tấn (3,1%) và động vật thủy sinh khác 814.300 tấn (1,4%). Trong tổng sản lượng cá nuôi nước ngọt, các loài thuộc họ cá chép chiếm tỷ trọng chính (nuôi nhiều nhất ở Trung Quốc), tiếp đến là cá rô phi (Trung Quốc, Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ) và cá tra (chủ yếu ở Việt Nam). Sản lượng giáp xác nuôi trên toàn thế giới năm 2010 gồm các loài nước ngọt (29,4%) và các loài nước mặn (70,6%), trong đó sản lượng tôm chân trắng (Lithopenaeus vannamei) áp đảo trong các loài nước mặn (kể cả nuôi trong vùng nước ngọt). Đây được coi là loài nuôi thành công nhất trên phạm vi toàn cầu, bằng 71,8% tổng sản lượng tôm nuôi trên toàn thế giới năm 2010, trong đó châu Á chiếm 77,9%, phần còn lại được nuôi ở vùng bản địa châu Mỹ. Tuy nhiên vẫn có nước, như Bănglađet, đang cấm nuôi tôm chân trắng. Tôm sú đã mất dần vị trí quan trọng trong thập kỷ qua. Tôm càng nước ngọt nuôi ở Nam và Đông Nam Á cũng đã trở thành loài nuôi quan trọng. Đối với nhuyễn thể, sản lượng nuôi nghêu, sò đã tăng nhanh và mạnh hơn rất nhiều so với các loài khác trong ngành. Chế biến thủy sản Năm 2010, 40,5% tổng sản lượng thủy sản thế giới (60,2 triệu tấn) đã được bán ra trên thị trường dưới các hình thức tươi, sống và 45,9% (68,1 triệu tấn) đã chế biến dưới các hình thức như đông lạnh và xử lý khác (khô, xông khói và lên men) để làm thực phẩm trực tiếp; 13,6% còn lại dùng cho các mục đích phi thực phẩm. Ở châu Âu và Bắc Mỹ, 2/3 tổng khối lượng thủy sản làm thực phẩm tiêu thụ dưới dạng đông lạnh và đồ hộp; châu Phi tiêu thụ nhiều thủy sản đã qua xử lý. Châu Á chuộng thủy sản tươi sống và nhờ công nghệ tiên tiến trong bảo quản và vận chuyển nên xu hướng này ngày nay càng được phát triển trong cộng đồng người châu Á.  
Ở các nước công nghiệp, người dân ngày càng sử dụng nhiều thủy sản chế biến sẵn, GTGT và tiện dụng. Thị phần này chiếm khoảng 26,9% trong năm 2010. Các hệ thống siêu thị và bán lẻ lớn đã trở thành những đối tượng quan trọng trong việc đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với sản phẩm mà họ bán ra. Vì vậy, khu vực chế biến cũng chuyên sâu hơn, chú trọng đến nguồn gốc sản phẩm và phải xây dựng mối liên kết dọc trong chuỗi sản xuất và kết nối với hệ thống tiêu thụ toàn cầu. Những thay đổi này phản ánh tính toàn cầu hóa của chuỗi giá trị thủy sản với sự kiểm soát ngày càng lớn của khu vực bán lẻ đối với sự phát triển của các kênh phân phối quốc tế. Chủ trương chuyển mạnh sản xuất chế biến sang nước đang phát triển có thể bị hạn chế do khó đáp ứng yêu cầu VSATTP và giá nhân công tăng.Thương mại thủy sản và các mặt hàng chính Hiện nay, thủy sản và các sản phẩm thủy sản là loại thực phẩm được mua bán nhiều nhất trên thế giới. Năm 2010, XK thủy sản chiếm 10% tổng giá trị XK nông sản (không kể lâm sản) và chiếm 1% tổng giá trị thương mại toàn cầu. Trong giai đoạn 1976-2008, giá trị thương mại thủy sản toàn cầu tăng mạnh từ 8 tỷ USD lên 102 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng 3,9%/ năm. Năm 2009, do hậu quả của suy thoái kinh tế, thương mại giảm 6% so với năm 2008 nhưng chỉ giảm về giá trị do giá và lợi nhuận giảm, còn khối lượng vẫn tăng 1%. Một số nước đang phát triển thậm chí tăng NK do nhu cầu trong nước tăng. Năm 2010, thương mại thủy sản phục hổi đáng kể, đạt trên 109 tỷ USD, tăng 13% về giá trị và 2% về khối lượng so với năm 2009. Sự chênh lệch tốc độ tăng trưởng giữa khối lượng và giá trị cho thấy giá đã tăng lên trong năm 2010.  
Năm 2011, tuy một số nền kinh tế hàng đầu thế giới không ổn định, nhưng giá thủy sản tăng và nhu cầu cao tại các nước đang phát triển nên đã đẩy khối lượng và giá trị thương mại lên mức cao kỷ lục, mặc dù 6 tháng cuối năm đã giảm đi phần nào. Theo ước tính, giá trị XK thủy sản toàn cầu năm 2011 đã vượt mức 125 tỷ USD. Trong năm 2012, nhiều nền kinh tế lớn tiếp tục bất ổn, nhưng thương mại thủy sản vẫn phát triển và triển vọng lâu dài vẫn khả quan với sản lượng thủy sản đưa ra thị trường ngày càng tăng.Sức tăng trưởng và tính bền vững của thương mại thủy sản có thể bị ảnh hưởng vì sự thay đổi của giá thành sản xuất, chi phí vận chuyển và giá bán sản phẩm. Chỉ số giá thủy sản của FAO (dựa trên năm cơ sở 2002- 2004=100) cho thấy giá trung bình năm 2009 giảm 7% so với năm 2008, sau đó tăng 9% vào năm 2010 và trên 12% vào năm 2011 (mức đỉnh vào tháng 8/2011), giá thủy sản khai thác tăng mạnh hơn thủy sản nuôi do chi phí nhiên liệu. Năm 2010, trên thế giới có 197 nước XK thủy sản. Đối với những nước đang phát triển, ngành XK thủy sản có vai trò rất quan trọng. Trong giai đoạn 2000-2010, mười nước XK thủy sản lớn nhất thế giới (theo thứ tự giảm dần) là: Trung Quốc, Na Uy, Thái Lan, Việt Nam, Mỹ, Đan Mạch, Canađa, Hà Lan, Tây Ban Nha, Chilê; mười nước NK thủy sản lớn nhất thế giới (theo thứ tự giảm dần) là: Mỹ, Nhật, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Pháp, Italia, Đức, Anh, Thụy Sĩ, Hàn Quốc. Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam và một số nước phát triển khác đóng vai trò quan trọng trong ngành thủy sản thế giới. Từ năm 2002 đến nay, Trung Quốc là nhà chế biến và XK thủy sản lớn nhất thế giới, năm 2010 chiếm khoảng 12% tổng giá trị XK thủy sản toàn cầu với 13,3 tỷ USD và tăng lên 17,1 tỷ USD năm 2011. Thái Lan trở thành một trung tâm chế biến thủy sản của thế giới nhưng phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nguyên liệu NK, trong khi đó Việt Nam có vùng sản xuất nguyên liệu trong nước ngày càng mở rộng. XK thủy sản của Việt Nam tăng mạnh từ 1,5 tỷ USD năm 2000 lên 6,2 tỷ USD năm 2011 và trở thành nhà XK thủy sản lớn thứ tư trên thế giới nhờ tăng sản lượng NTTS, trong đó nhiều nhất là cá tra và tôm. Về NK, Mỹ và Nhật Bản đứng đầu thế giới và ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn NK để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của người dân, trong đó Mỹ phải nhập tới 60% tổng tiêu thụ thủy sản trong nước và Nhật Bản là 54%. Liên minh Châu Âu (EU) là khối thị trường NK thủy sản lớn nhất, nhưng đây là một khối thị trường không đồng nhất, có các điều kiện tiêu thụ khác biệt giữa các nước trong khối. Năm 2010, NK thủy sản của EU (không tính trong nội khối) đạt 23,7 tỷ, chiếm 26% tổng NK thủy sản của toàn thế giới, tăng 11% so với năm 2009 và tăng lên 26,5 tỷ USD năm 2011. Sự phụ thuộc và NK của EU đang ngày càng tăng lên. Bên cạnh các nhà NK lớn trên, một số thị trường mới nổi đang ngày càng quan trọng trong tiêu thụ thủy sản như Braxin, Nga, Mêhicô, Ai Cập, Châu Á và Cận Đông, Châu Phi, Trung và Nam Mỹ.  
Một số vấn đề lớn trong hai năm vừa qua được dự đoán có thể tiếp tục tác động đến thương mại thủy sản thế giới trong thời gian tới, bao gồm giá hàng hóa nói chung không ổn định sẽ tác động đến nhà sản xuất và người tiêu dùng; tăng NK thủy sản nuôi sẽ ảnh hưởng đến ngành sản xuất thủy sản trong nước; vai trò của khu vực sản xuất và thương mại thủy sản quy mô nhỏ.Những vấn đề liên quan đến quản lý và phát triển bền vững cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ thương mại thủy sản, như mối quan hệ giữa mô hình quản lý nghề cá, phân bổ quyền lợi và tính bền vững về kinh tế của ngành; việc áp dụng các tiêu chuẩn riêng vì mục đích môi trường, xã hội và sự hậu thuẫn của các nhà bán lẻ lớn đối với các tiêu chuẩn này; đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, kể cả việc chú trọng đến hỗ trợ nghề cá; biến đổi khí hậu, phát thải khí cacbon và tác động của chúng lên ngành thủy sản; công chúng và khu vực bán lẻ quan tâm ngày càng nhiều đến lạm thác một số nguồn lợi thủy sản; đảm bảo sản phẩm hải sản mua bán trên thị trường quốc tế được đánh bắt một cách hợp pháp; thủy sản phải có tính cạnh tranh so với các sản phẩm thực phẩm khác; cùngnhững rủi ro và lợi ích của tiêu dùng thủy sản.

Trung Mai



Chính phủ nhiều nước phản ứng mạnh mẽ trước vụ kiện chống trợ cấp tôm

Written by Administrator on 13/01/2013. Posted in Tin tức & sự kiện

Theo nhiều báo nước ngoài, trong khi các nhà khai thác tôm vùng Vịnh Mêhicô, các nhà chế biến và các thành phần khác đã gần đến hạn trả lời bảng câu hỏi của Chính phủ Mỹ về tác động của tôm nhập khẩu đối với ngành tôm nội địa thì chính phủ nhiều nước đang đấu tranh với những luật lệ mới được đề nghị.

Business Standard, tờ nhật báo tiếng Anh của Ấn Độ cho biết, ngành xuất khẩu thủy sản của nước này đang phải đối phó với một mối đe dọa nghiêm trọng. Ngày 28/12, Liên minh ngành tôm vùng Vịnh (COGSI) đã đệ đơn yêu cầu áp thuế chống trợ cấp đối với tôm từ Trung Quốc, Êcuađo, Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan và Việt Nam, Liên minh này cho rằng “việc đánh thuế là cần thiết để bù lại phần lợi thế thương mại bất bình đẳng mà các nước trên giành được”. Cũng theo tờ Business Standard, Mỹ là nhà nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Ấn Độ và “nếu Oashingtơn áp đặt thuế chống trợ cấp đối với tôm nhập khẩu, ngành xuất khẩu thủy sản của Ấn Độ sẽ rơi vào khủng hoảng sâu sắc.” Tờ báo cho biết: “Xuất khẩu thủy sản của Ấn Độ vốn đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự sụt giảm mạnh ở các thị trường như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Đông Nam Á và Trung Quốc”. Trong khi Mỹ là thị trường duy nhất đạt tăng trưởng giá trị nhập khẩu từ tháng 4-9/2012. Ravi Reddy, chủ tịch của Hiệp hội Xuất khẩu thủy sản của Ấn Độ cho biết: “Chúng tôi sẽ mời các luật sư giỏi nhất để đấu tranh tại tòa trong vụ kiện này”. Chủ tịch Hiệp hội Nuôi trồng thủy sản Êcuađo, Antonio Camposano nói hiệp hội đang tiến hành mọi biện pháp nhằm đảm bảo bảo vệ tốt nhất cho ngành, ông cho rằng “lời cáo buộc này hoàn toàn sai sự thật.” Trên tờ Bưu điện Bangkok , phía Thái Lan lập luận rằng tôm nuôi luôn luôn rẻ hơn so với tôm khai thác, vì vậy, ngư dân vùng Vịnh của Mỹ đang cố tình so táo với cam”. Tờ báo cũng cho biết Mỹ đang chiếm khoảng 46% tổng lượng xuất khẩu tôm của Thái Lan. Đến hết ngày 11/1, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ phải nhận lại tất cả các bảng câu hỏi sau khi được ngư dân, nhà chế biến và nhập khẩu tôm vùng vịnh cũng như người nuôi tôm và nhà xuất khẩu nước ngoài trả lời và gửi về để phục vụ cho giai đoạn điều tra ban đầu. Ủy ban này dự kiến sẽ ra phán quyết sơ bộ vào tháng 2, nhưng phán quyết cuối cùng có thể sẽ mất khoảng một năm.

Seafoodnews



Thủy sản đông lạnh Việt Nam chiếm vị trí số 1 ở Mêhicô

Written by Administrator on 31/08/2012. Posted in Tin tức & sự kiện

Triển lãm Thực phẩm  Đồ uống quốc tế Mêhicô 2010 (Alimetaria Mexico 2010)  Triển lãm quốc tế lớn, uy tín về thực phẩm  đồ uống được tổ chức vào đầu tháng 6 hàng năm tại Mêhicô. Triển lãm Thực phẩm và Đồ uống quốc tế Mêhicô 2010 đã chính thức được khai mạc vào 13h00 ngày  1/6/2010 (tức 1h00 sáng ngày 2/6 giờ Việt Nam) tại Trung tâm Triển lãm và Hội nghị quốc tế Banamex (Centro Banamex), thủ đô Mêhicô. Với quy mô gần 300 gian hàng, triển lãm năm nay thu hút sự tham gia của đại diện các công ty, tập đoàn lớn và các hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực chế biến và phân phối thực phẩm, đồ uống đến từ 21 quốc gia gồm: Mêhicô, Italia, Tây Ban Nha, Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Việt Nam, Nga, Êcuađo, Canada, Inđônêxia, Xingapo, Bỉ, Hàn Quốc, Luxemburg, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Ấn Độ, Nam Phi, Chilê, Ba lan…


Xuất khẩu thủy sản năm 2010: Chinh phục thị trường bằng chất lượng

Written by Administrator on 31/08/2012. Posted in Tin tức & sự kiện

Các thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam như: Nga, Hoa Kỳ, EU, Nhật… liên tục đưa ra những quy định mới về chất lượng thủy sản nhập khẩu. Để không đánh mất thị trường, vấn đề cần được ưu tiên hàng đầu, chính là yếu tố chất lượng. Thời gian tới, Bộ NN&PTNT kiên quyết dừng việc cấp chứng thư cho những doanh nghiệp cố tình không tuân thủ các quy định về ATVSTP; đồng thời áp dụng các biện pháp cứng rắn, kể cả đình chỉ xuất khẩu, đối với các doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng… Nhận diện những khó khăn Năm 2009, lần đầu tiên xuất khẩu thủy sản đạt con số tăng trưởng âm. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Namcả năm 2009 đạt 4,3 tỷ USD. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản (Vasep) năm 2009, trừ sản phẩm tôm có kim ngạch xuất khẩu tăng, còn hầu hết các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu khác đều giảm cả về sản lượng và giá trị. Nguyên nhân cơ bản được xác định là do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái toàn cầu. Tuy nhiên, một yếu tố tác động không nhỏ tới sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam chính là các rào cản thương mại, kỹ thuật mà các nước nhập khẩu đưa ra. Cụ thể, lấy lý do “thủy sản Việt Nam không đảm bảo chất lượng VSATTP” Nga đã dừng nhập khẩu thủy sản Việt Nam trong khoảng thời gian dài (từ cuối năm 2008 đến tháng 5/2009). Một số thị trường khác như: Ai Cập, Italia… cũng tung ra những tin đồn thất thiệt về chất lượng cá tra Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của loài cá xuất khẩu chủ lực, khiến kim ngạch xuất khẩu loại cá này giảm sút rõ ràng…


Hương gạo cuối năm

Written by Administrator on 31/08/2012. Posted in Tin tức & sự kiện

Mùa này ngớt mưa, ra ngoại thành nhìn những thảm mạ xanh mới thấy dạt dào thương mến người nông dân dãi dầu mưa nắng. Những người nông dân góp phần lo cho những bữa cơm đầm ấm ấy, từ mùa nắng đến mùa mưa, ngày đêm miệt mài với đồng lúa, hết gieo cấy, bón phân, diệt rầy nâu, gặt đập lại phơi khô, xay xát…

Một lần đi công tác xuống địa phương, hết anh B. đến chị X. đưa đón và không ai quên mời “ăn cái đã”. Bữa ăn có mực, cá, tôm, cua, lại thêm bia, nước ngọt, rượu, cà phê, cả món tráng miệng… mà chẳng thấy mạnh thường quân nào gọi cho một dĩa cơm trắng. Suốt tuần, bụng đầy ắp món ngon vật lạ nhưng dường như vẫn thiếu thiếu “cái gì đó”. Chiều cuối đợt công tác, ghé quán lề đường, kêu dĩa cơm tép rang, ly trà đá… phải xúc động thốt lên: “Hơn nhà hàng năm sao”.

Trụ sở chính

  • Quốc lộ 91, KV Thới An 3, Phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành Phố Cần Thơ, Việt Nam
  • Số điện thoại: +84-710-3854888
  • Số di động: +84 902 540 540
  • Số fax: +84-710-3855889
  • Email: info@hiepthanhgroup.com

Văn Phòng Đại Diện

  • 38 Đường số 2, Hưng Gia 5, Phú Mỹ Hưng, P.Tân Phong, Quận 7, TP.HCM, Việt Nam
  • Số điện thoại: +84 8 5411 9992
  • Số fax: +84 8 5411 9994
  • Email: info@hiepthanhgroup.com

Chi nhánh Hoa Kỳ

  • 10181 Westminster Avenue, Room 213, Garden Grove, CA 92843
  • Số điện thoại: +1-714-643-9846
  • Số fax: +1-714-643-9854
  • Email: info@hiepthanhgroup.com